Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 04/2018

 
Thứ Sáu, 25/11/2016
Báo giá
1. Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 49.000 - 55.000 đ/kg; 2. Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 55.000 đ/kg; 3. Giá heo (lợn) hơi Hải Dương, Thái Bình 54.000 đ/kg; 4. Giá heo (lợn) hơi miền Trung, Tây Nguyên 43.000 - 53.000 đ/kg; 5. Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị, Hà Tĩnh 52.000 đ/kg; 6. Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 53.000 đ/kg; 7. Giá heo (lợn) hơi Bình Định 47.000 đ/kg; 8. Giá heo (lợn) hơi Kiên Giang, Hậu Giang 48.000 đ/kg; 9. Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long, Long An 47.000 đ/kg; 10. Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 49.000 - 55.000 đ/kg; 11. Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 55.000 đ/kg; 12. Giá heo (lợn) hơi Hải Dương, Thái Bình 54.000 đ/kg; 13. Giá heo (lợn) hơi miền Trung, Tây Nguyên 43.000 - 53.000 đ/kg; 14. Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị, Hà Tĩnh 52.000 đ/kg; 15. Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 53.000 đ/kg; 16. Giá heo (lợn) hơi Bình Định 47.000 đ/kg; 17. Giá heo (lợn) hơi Kiên Giang, Hậu Giang 48.000 đ/kg; 18. Giá heo (lợn) hơi Vĩnh Long, Long An 47.000 đ/kg
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Quảng cáo
    13456
Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 04/2018
Ngày đăng bài - 5/8/2018 12:00:00 AM
Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 04/2018

TÌNH HÌNH CHUNG 

 

Theo Bộ NN&PTNT, trong tháng 4/2018 tình hình chăn nuôi bò phát triển tốt do giá bán ổn định, thị trường tiêu thụ tốt, các dự án chăn nuôi bò tại các tỉnh đang được triển khai có hiệu quả. Ước tính tổng đàn trâu cả nước giảm 0,4%, đàn bò tăng 2,9% so cùng kỳ năm 2017. Chăn nuôi gia cầm phát triển khá, giá bán ổn định ở mức có lãi cho người chăn nuôi là những yếu tố khiến đàn gia cầm phát triển. Ước tính đàn gia cầm của cả nước tăng 6,8% so cùng thời điểm năm 2017.

 

Chăn nuôi trâu, bò: Đàn bò phát triển tốt do giá bán ổn định, thị trường tiêu thụ tốt, các dự án chăn nuôi bò tại các tỉnh đang được triển khai có hiệu quả. Ước tính tổng đàn trâu cả nước giảm 0,4%, đàn bò tăng 2,9% so cùng kỳ năm 2017.

 

Chăn nuôi lợn: Giá lợn hơi gần đây chững lại do một số thị trường nhập khẩu thịt lợn của Việt Nam đang có dấu hiệu cung vượt cầu (Trung Quốc, Campuchia…). Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, số lượng lợn hiện tại của cả nước giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, giá bán ổn định ở mức có lãi cho người chăn nuôi là những yếu tố khiến đàn gia cầm phát triển. Ước tính đàn gia cầm của cả nước tăng 6,8% so cùng thời điểm năm 2017.

 

 

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 26/04/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

 

Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm Gia cầm.

 

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch  LMLM.

 

Dịch Tai xanh trên lợn
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

 

Nhận định tình hình dịch

 

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

 

Lở mồm long móng: Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

 

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

 

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (văn bản số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

 

Sau khi bật tăng mạnh và duy trì xu hướng tích cực trong gần 2 tuần liên tiếp, giá lợn hơi tại nhiều địa phương đã giảm trở lại vào cuối tháng. Tại miền Bắc, giá lợn hơi tại miền Bắc dao động 36.000 – 40.000 đ/kg. Cụ thể, tại các tỉnh giáp biên giới Trung Quốc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, giá lợn hơi hiện đang dao động từ 39.000 – 40.000 đ/kg, tăng 6.000 – 7.000 đ/kg so với tháng trước.

 

Các địa phương như Lào Cai, Hải Phòng, Bắc Giang, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Thạch Thất (Hà Nội)… giá dao động từ 37.000 – 38.000 đ/kg, tăng 5.000 đ/kg so với tháng trước. Tại Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Ninh Thuận, giá lợn hơi đạt 40.000 đ/kg, tăng 6.000 đ/kg so với tháng trước.

 

Tại khu vực miền Đông Nam Bộ như tỉnh Đồng Nai, huyện Củ Chi (TP.Hồ Chí Minh), giá lợn hơi đã chạm mốc 40.000 đ/kg, tăng 8.000 đ/kg so với tháng 3/2018. Giá lợn hơi tăng trong tháng qua chủ yếu là do nguồn cung giảm rất mạnh do trước đó người chăn nuôi giảm đàn hoặc ngừng chăn nuôi.

 

Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 04/2018

 

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

 

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

 

Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 4/2018 ước đạt 348 triệu USD, đưa tổng giá trị thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu 4 tháng đầu năm lên 1,27 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2017. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong 3 tháng đầu năm 2018 là Achentina (chiếm 35% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (16%), Brazil (8,7%). Trong đó, thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2017 là Braxin (tăng hơn 8 lần) tiếp đến là Ấn Độ với mức tăng là 67,9%. Ngược lại, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu của thị trường Italia giảm mạnh, với mức giảm 46,1%.

 

Đậu tương:

 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 4/2018 đạt 170 nghìn tấn với giá trị 75 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị đậu tương nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm 2018 đạt 561 nghìn tấn và 242 triệu USD, giảm 7,9% về khối lượng và giảm 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Ngô:

 

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 4/2018 đạt 1,2 triệu tấn với giá trị đạt 250 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị ngô nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm 2018 đạt 3,15 triệu tấn và giá trị đạt 621 triệu USD, tăng 38,7% về khối lượng và tăng 34% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 3 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt là 72,2% và 25,4% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu tăng mạnh nhất trong 3 tháng đầu năm 2018 là Achentina với mức tăng hơn 3 lần, tiếp đến là Braxin với mức tăng 0.6%. Thị trường có giá trị nhập khẩu mặt hàng ngô giảm mạnh nhất trong 3 tháng đầu năm 2018 là thị trường Thái Lan với mức giảm là 68,9%.

 

Lúa mì:

 

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 4/2018 đạt 566 nghìn tấn với giá trị đạt 122 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị lúa mì nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm 2018 đạt 1,76 triệu tấn và 408 triệu USD, tăng 0,6% về khối lượng và tăng 14,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Ba thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 3 tháng đầu năm 2018 là Ôxtrâylia, Nga và Canada với thị phần lần lượt là 39,6%, 34,6% và 11,5%. Trong đó, thị trường Nga có giá trị lúa mì tăng 8,8 lần và thị trường Ôxtrâylia có giá trị nhập khẩu lúa mì tăng 16,3%, ngược lại giá trị nhập khẩu lúa mì từ thị trường Canada lại giảm 31,4%. Đặc biết, trong 3 tháng đầu năm 2018 giá trị nhập khẩu lúa mì tăng đột biệt ở thị trường Hoa Kỳ với mức tăng lần lượt gấp khoảng 34 lần so với cùng kỳ năm 2017.

 

Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:

 

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 4 năm 2018 ước đạt 193 nghìn tấn với giá trị đạt 81 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 4 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1,1 triệu tấn và 376 triệu USD, giảm 24,7% về khối lượng nhưng tăng 3,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Trong 3 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 88,2% thị phần, giảm 25,7% về khối lượng và giảm 0,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Nguồn: Báo Chăn nuôi VN

Để lại comment của bạn

Họ tên:
Email:
Bình luận:
Quảng cáo
  • qcp2
  • qc3
  • qc4
Tin mới
Video
Thống kê truy cập